Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

nhung-sinh-vat-la-trong-hang-day-khi-doc-5-5-trieu-nam

Loài rết Criptos anomalans (trái) đối đầu với một con bọ cạp giả nhỏ hơn ở hang động Movile. Ảnh: Patrick Landmann.

Hang động Movile nằm ở Rumani là nơi cư ngụ của những sinh vật vô cùng kỳ lạ. Hang động nằm cách Biển Đen vài kilomet về phía tây này tồn tại biệt lập với thế giới bên ngoài trong suốt 5,5 triệu năm. Không khí rất độc và cực kỳ ẩm ướt tại đây tạo ra điều kiện nghiên cứu tuyệt vời cho các nhà sinh học.

Theo BBC, chưa đến 100 người từng tiến sâu vào hang động này. Hang Movile được con người phát hiện năm 1986, khi một số công nhân thuộc nước Cộng hòa Romania tìm kiếm khu vực mới để xây nhà máy điện hạt nhân. Ngày nay, các nhà chức trách đã phong tỏa hang động và yêu cầu một loại giấy phép đặc biệt để ra vào, dù nhóm hang ở trung tâm đang được tự nhiên bảo vệ với hàng loạt vách đá dựng đứng và đường hầm đá vôi chật hẹp.

nhung-sinh-vat-la-trong-hang-day-khi-doc-5-5-trieu-nam-1

Loài vật có tên Armadillidium sp. woodlouse sống trong hang động Movile. Ảnh: Patrick Landmann.

Khi vào sâu trong hang, không khí chỉ chứa một nửa lượng oxy so với bình thường, nhưng lại có nồng độ cacbon dioxide và hydro sunfua cao. Nơi đây cũng là một hố sâu đen ngòm do không được chiếu sáng trong ít nhất 5,5 triệu năm.

Tuy nhiên, trong môi trường khắc nghiệt này, các nhà khoa học đã xác định được 48 loài bao gồm nhiều loài nhện, bọ cạp nước, bọ cạp giả, rết, đỉa, đẳng túc. Tổng cộng 33 loài trong số đó chỉ tồn tại duy nhất ở hang Movile.

Hầu hết các sinh vật trong hang động bị tiêu giảm thị giác hoặc thiếu sắc tố, vì thị giác hoặc ngoại hình bắt mắt là những đặc điểm không cần thiết trong bóng tối. Phần lớn chúng có thân hình khẳng khiu với các chi và râu rất dài nhằm định hướng tốt hơn.

Không chỉ vậy, thế giới trong hang là ví dụ duy nhất cho kiểu hệ sinh thái dựa hoàn toàn vào vi khuẩn hóa tổng hợp. Hầu hết các hệ sinh thái sử dụng quang tổng hợp nhằm khai thác năng lượng. Tuy nhiên, do không có ánh sáng Mặt Trời trong hang động, các vi khuẩn cần lấy nguồn năng lượng và carbon trực tiếp từ phản ứng hóa học, chẳng hạn như quá trình oxy hóa sulfua hoặc quá trình oxy hóa amoni.

Việc những loài động vật tới được hang động và bị cô lập trong đó như thế nào vẫn là bí ẩn đối với các nhà khoa học. "Có khả năng vi khuẩn đã tồn tại trong hang động rất lâu so với mốc 5 triệu năm trước, còn các loại côn trùng mới bị kẹt ở hang trong khoảng thời gian đó", J. Colin Murrell, nhà vi sinh học từ Đại học East Anglia, Anh, nhận xét. "Có thể, chúng bị rơi và mắc kẹt trong hang khi các khối đá vôi lăn xuống, che kín hang động cho đến khi nó được khám phá vào năm 1986".

Xem thêm: Hang rắn lớn nhất thế giới bừng tỉnh sau giấc ngủ đông

Phương Chu

Thứ năm, 2/6/2016 | 06:00 GMT+7

Thứ năm, 2/6/2016 | 06:00 GMT+7

Nếu con bò đi ăn ven đường mà chẳng may bị kim tiêm dính máu nhiễm HIV đâm trúng thì nó có bị nhiễm HIV không? Nếu ta giết và ăn thịt nó thì ta có nguy cơ bị lây nhiễm không? (Thành Vỹ)

bo-co-bi-nhiem-hiv-khong

Bò có thể bị lây nhiễm HIV không? Ảnh minh họa: WSJ

Mời độc giả đặt câu hỏi tại đây.

'; var parentDom = $(this).parent().get(0).tagName; var tableDom = $(this).parents('table'); if(parentDom == 'TD' || parentDom == 'td') { tableDom.before(vneVideo).remove(); } }); Parser.SITE_URL = base_url; Parser.URL = js_url; Parser.FLASH_URL = flash_url; Parser.SITE_ID = site_id; Parser.AUTO_PLAY = 1; Parser.parseAll(); } if (typeof(common.parserAdsFullScreen) != 'undefined') { common.parserAdsFullScreen(); } if (typeof(common.resizeImageDetail) != 'undefined') { common.resizeImageDetail(); $(window).resize(function() { common.delayFireOnce(1000).done(function() { common.resizeImageDetail(); }); }); }

Thứ tư, 1/6/2016 | 21:30 GMT+7

Thứ tư, 1/6/2016 | 21:30 GMT+7

Động mạch, mao mạch và tĩnh mạch trong hệ tuần hoàn của một người có thể đạt chiều dài lên tới 100.000 km nếu ghép lại với nhau, đủ quấn quanh Trái Đất 2,5 lần.

Theo Live Science, nếu nối tất cả động mạch, mao mạch và tĩnh mạch ở một người trưởng thành, chúng ta sẽ thu được chiều dài 100.000 km. Mao mạch có kích cỡ nhỏ nhất, chiếm khoảng 80% chiều dài nói trên. Chiều dài của tất cả mạch máu đủ quấn quanh Trái Đất 2,5 lần (chu vi Trái Đất khoảng 40.000 km). Ảnh: Wikipedia.

Mao mạch trong cơ thể người rất nhỏ, đường kính trung bình chỉ khoảng 8 micronmet, bằng 1/10 đường kính sợi tóc. Các tế bào hồng cầu có kích cỡ tương tự như mao mạch, nên chúng phải di chuyển thành từng hàng. Một số mao mạch có đường kính nhỏ hơn một chút so với tế bào máu, nên tế bào máu buộc phải tự thay đổi hình dạng, bóp méo lại để di chuyển qua. Ảnh: Wikipedia.

Trong thế giới động vật, nhịp tim tỷ lệ nghịch với kích thước cơ thể. Động vật có kích thước cơ thể càng lớn thì nhịp tim càng chậm. Người trưởng thành có nhịp tim trung bình 75 nhịp/phút, tương tự như một con cừu. Quả tim của cá voi xanh lớn bằng chiếc xe hơi nhỏ chỉ đập khoảng 5 nhịp/phút. Ngược lại, một con chuột chù có nhịp tim khoảng 1.000 nhịp/phút. Ảnh: Đại học Oregon, Mỹ.

Quả tim tự sản sinh xung điện cho riêng mình, tạo ra nhịp đập. Chừng nào tim còn nhận được oxy, nó sẽ tiếp tục đập, ngay cả khi bị lấy ra khỏi cơ thể. Ảnh: Live Science. 

Tài liệu chữ viết sớm nhất được biết đến về hệ tuần hoàn xuất hiện trong sách giấy cói Ebers Papyrus, một tư liệu y khoa của người Ai Cập có niên đại từ thế kỷ 16 trước Công nguyên. Quyển sách mô tả kết nối sinh lý giữa tim và động mạch. Theo đó, sau khi con người hít không khí vào phổi,  không khí sẽ di chuyển vào tim và chuyển sang các động mạch. Sách không đề cập đến vai trò của tế bào hồng cầu.

Người Ai Cập cổ đại tin rằng, trái tim chứ không phải bộ não là nguồn gốc của cảm xúc, trí tuệ, khả năng ghi nhớ. Trong quá trình ướp xác, người Ai Cập cẩn thận lấy tim và các cơ quan nội tạng ra để bảo quản, nhưng lại rút não qua đường mũi và vứt bỏ nó. Ảnh: Wikipedia.

Galen, vị bác sĩ kiêm triết gia người Hy Lạp, đưa ra mô hình hệ thống tuần hoàn vào thế kỷ thứ 2. Ông nhận thấy hệ tuần hoàn gồm máu trong tĩnh mạch (màu đỏ sẫm) và máu trong động mạch (màu đỏ tươi), hai loại mạch này có chức năng khác nhau. Theo ông, hệ tuần hoàn bao gồm hai hệ thống một chiều phân phối máu và gan là cơ quan sản xuất máu trong tĩnh mạch. Quả tim là cơ quan hút máu, không phải là cơ quan bơm máu đi nuôi cơ thể.

Lý thuyết về hệ tuần hoàn của Galen thống trị giới y học phương Tây cho tới những năm 1600, khi bác sĩ người Anh William Henry mô tả chính xác sự lưu thông máu trong hệ tuần hoàn. Ảnh: Wikipedia.

Không giống những tế bào khác trong cơ thể, hồng cầu là tế bào không có nhân nên chúng không thể tự phân chia hoặc tổng hợp thành các tế bào mới. Mỗi tế bào hồng cầu gồm nhiều ngăn chứa khí oxy đi nuôi cơ thể. Sau khi lưu thông trong cơ thể khoảng 120 ngày, các tế bào hồng cầu sẽ chết do lão hóa hoặc bị phá hủy. Nhưng tủy xương của chúng ta liên tục sản sinh ra nhiều tế bào hồng cầu mới để thay thế cho số lượng mất đi đó. Ảnh: Live Science.

Những chấn động về mặt cảm xúc như mất đi người thân, ly hôn, hay chia tay người yêu có thể làm "trái tim tan vỡ", kéo theo sự suy yếu tạm thời của cơ tim. Tình trạng này còn được gọi là bệnh lý cơ tim do căng thẳng, dẫn tới những triệu chứng gần giống một cơn đau tim như: đau ngực, khó thở, đau nhức cánh tay. Ảnh: Anna Khomulo.

Thông tim là liệu pháp y học phổ biến ngày nay, được thực hiện bằng cách đưa một ống thông dài và mảnh vào mạch máu người bệnh, sau đó luồn tới tim. Các bác sĩ sử dụng kỹ thuật này để thực hiện một số xét nghiệm chẩn đoán tim, chẳng hạn như đo lượng oxy tại các phần khác nhau của tim và kiểm tra lưu lượng máu chảy trong động mạch vành. Ảnh: Michael Gray.

Dòng máu giàu oxy chảy trong động mạch và mao mạch luôn có màu đỏ tươi. Sau khi vận chuyển oxy tới các mô của cơ thể, máu chuyển sang màu đỏ sẫm và nhanh chóng quay trở lại tim thông qua các tĩnh mạch. Tĩnh mạch có thể trông giống màu xanh khi nhìn qua da, nhưng thực tế màu xanh của tĩnh mạch là do tương tác của ánh sáng với da, lượng oxy trong máu, độ sâu của tĩnh mạch và một số yếu tố khác. Ảnh: Wikipedia.

Trên Trái Đất, máu trong cơ thể người luôn dồn xuống hai chân vì sức hút của trọng lực. Tĩnh mạch ở chân có các van, giúp lưu thông máu từ hai chân chảy ngược về tim. Mọi chuyện sẽ khác hẳn khi con người ở trong không gian. Máu không dồn xuống hai chân nữa mà dồn về ngực và đầu (hiện tượng chuyển dịch chất lỏng). Hiện tượng này khiến các phi hành gia bị nghẹt mũi, đau đầu và phù nề ở mặt. Ảnh: NASA.

 

Xem thêm: Khám phá bí mật kim tự tháp Ai Cập bằng tia vũ trụ

phat-minh-y-nghia-o-noi-bang-ve-sinh-dat-bang-mot-ngay-luong

Trinitas bên cạnh các nữ sinh. Ảnh: BBC.

Theo BBC, một gói băng vệ sinh bán tại các cửa hàng ở Malawi có giá 500 kwacha hay 0,75 USD. Số tiền này tương ứng với tiền công tối thiểu một ngày của người lao động, trong khi vào mỗi kỳ kinh nguyệt, các cô gái phải sử dụng ít nhất hai gói băng vệ sinh.

Khi đến kỳ kinh nguyệt, những cô gái ở Malawi thường tận dụng vải cũ bằng cách cắt chitenge, dải thắt lưng cuốn quanh eo, thành nhiều mảnh nhỏ. Nhưng vải cũ sờn thường cọ xát vào cơ thể khiến họ bị đau và dễ xô lệch khỏi vị trí, dẫn đến nhiều tình huống xấu hổ.

Không chỉ vậy, phụ nữ Malawi còn phải tranh thủ giặt mảnh vải cũ vào lúc sáng sớm hoặc tối muộn để tránh mọi người xung quanh nhìn thấy. Việc phơi khô vải ở nơi dễ thấy cũng là một điều cấm kỵ tại đây. Vì vậy, họ thường phải tìm góc khuất bên trong nhà để trải mảnh vải.

phat-minh-y-nghia-o-noi-bang-ve-sinh-dat-bang-mot-ngay-luong-1

Trinitas cầm một mảnh vải cắt từ chitenge. Ảnh: BBC.

Tuy nhiên, Trinitas, nhà nghiên cứu 31 tuổi ở Đại học Y tại Blantyre, Malawi, đã tìm ra cách giúp nhiều phụ nữ giải quyết khó khăn hàng tháng trong ngày hành kinh. Khi chỉ hai nữ sinh trong lớp đi học, Trinitas hỏi giáo viên về những nữ sinh khác và biết lý do các em xin nghỉ học cả tuần là do đến kỳ kinh nguyệt. Thông thường, phụ nữ Malawi không ra khỏi nhà suốt kỳ kinh.

Trinitas nhớ lại những ngày đi học trước đây của mình và bực bội khi một thế hệ phụ nữ khác phải đối mặt với khó khăn trong việc giữ gìn vệ sinh cơ thể. Cô mua một chiếc máy khâu cũ và bắt đầu tạo ra những miếng băng vệ sinh sử dụng nhiều lần từ loại vải có sẵn ở địa phương. Trinitas tiến hành nghiên cứu ở các trường học và tất cả nữ sinh đều được dùng thử miếng băng do cô tự làm. Phản hồi từ các nữ sinh vô cùng khả quan. Theo họ, miếng băng rất dễ giặt. Lớp trên cùng mềm mại và xốp nhẹ, mang đến cảm giác thoải mái.

Thách thức mà Trinitas đang cần giải quyết là tìm nguồn đầu tư ở quốc gia đói nghèo như Malawi. Cô cần nguồn vốn đủ lớn để sản xuất băng vệ sinh hàng loạt với giá cả hợp lý cho người dân Malawi. Các nữ sinh tỏ ra rất vui mừng trước lợi ích mà sản phẩm này có thể mang lại cho họ. "Phần cánh cố định và phễu thấm cho phép em đi lại bình thường. Chúng em có thể chơi nhảy dây và tham gia mọi hoạt động khác", một nữ sinh cho biết.

Xem thêm: 'Tắt' tạm thời kinh nguyệt của nữ phi hành gia trên vũ trụ

Phương Hoa

sinh-vien-thien-van-phat-hien-4-hanh-tinh-moi

So sánh kích thước 4 hành tinh do Michelle Kunimoto phát hiện với sao Hải Vương, Trái Đất và sao Thủy. Ảnh: UBC.

Theo Tech Times, nữ sinh viên Michelle Kunimoto ở Đại học British Columbia (UBC), Canada, được giao bài tập phân tích dữ liệu về những đường cong ánh sáng khác nhau do kính viễn vọng Kepler của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) thu thập. Nhiệm vụ của Kunimoto là tìm kiếm thông tin mới mà các nhà nghiên cứu có thể bỏ sót.

"Ngôi sao chỉ là một chấm sáng nhỏ, do đó tôi xem xét những lần ánh sáng của ngôi sao giảm đi mỗi khi có một hành tinh đi ngang qua phía trước nó", Kunimoto cho biết.

Jaymie Matthews, thành viên hội đồng quản lý Kepler đồng thời là giáo sư thiên văn của Kunimoto ở trường đại học, cho biết các nhà nghiên cứu không tìm hiểu kỹ hơn thông tin ông giao cho Kunimoto bởi chúng thường chỉ ra kết quả sai. Tuy nhiên, Matthews tin chắc 4 hành tinh do Kunimoto tìm ra sẽ sớm được xác nhận.

sinh-vien-thien-van-phat-hien-4-hanh-tinh-moi-1

Michelle Kunimoto và giáo sư thiên văn Jaymie Matthews. Ảnh: Martin Dee.

Hai trong số 4 hành tinh mà Kunimoto phát hiện có kích thước tương tự Trái Đất, trong khi một hành tinh khác lớn hơn sao Thủy đôi chút. Hành tinh thứ tư có tên Kepler Object of Interest (KOI) 408.05, lớn gần bằng sao Hải Vương.

KOI-408.05 là hành tinh gây chú ý nhất bởi nó nằm trong khu vực có thể tồn tại sự sống tính từ ngôi sao mẹ. Đây có thể là ứng viên tiềm năng để tìm ra nước lỏng và dấu hiệu của sự sống ngoài Trái Đất. Hành tinh này ở cách Trái Đất khoảng 3.200 năm ánh sáng. Theo Kunimoto, xung quanh KOI-408.05 có thể là một số mặt trăng lớn hơn các hành tinh của hệ Mặt Trời và nhiều khả năng một trong số đó chứa đại dương nước lỏng.

Xem thêm: Cậu bé 15 tuổi tìm thấy thành phố cổ đại Maya trong rừng già

Phương Hoa

luoi-dao-gam-nam-vang-cua-vua-tut-che-tu-thien-thach

Con dao găm chôn cùng vua Tutankhamun trong quan tài. Ảnh: Daniela Comelli.

Sử dụng quang phổ kế huỳnh quang tia X không gây hư hại, một nhóm các nhà nghiên cứu người Italy và Ai Cập xác nhận phần lưỡi sắt của con dao găm đặt cạnh đùi phải xác ướp vua Tut có nguồn gốc từ thiên thạch, Live Science đưa tin. Đội chuyên gia bao gồm các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Bách khoa Milan, Đại học Pisa và Bảo tàng Ai Cập ở Cairo công bố chi tiết kết quả phát hiện trên tạp chí Meteoritics and Planetary Science cuối tháng 5.

Con dao găm đang nằm trong phòng trưng bày của Bảo tàng Ai Cập. Theo mô tả của Howard Carter, người phát hiện khu mộ chứa đầy báu vật của vua Tutankhamun năm 1922, đây là một con dao găm bằng vàng được chạm khắc tinh xảo và trang trí pha lê.

Chế tạo từ vật liệu kim loại đồng nhất không han gỉ, lưỡi dao có phần chuôi đúc bằng vàng. Đặt biệt, vỏ dao cũng làm từ vàng, được hoàn thiện với họa tiết hoa ly ở một mặt và hoạt tiết lông chim ở mặt kia cùng hình đầu chó rừng ở mép dao.

Những cải tiến về công nghệ cho phép các nhà nghiên cứu xác định thành phần lưỡi dao. "Tỷ lệ nickel cao chỉ rõ kim loại sắt có nguồn gốc thiên thạch", Discovery News dẫn lời Daniela Comelli, nhà khoa học ở Khoa Vật lý thuộc Đại học Bách khoa Milan, tác giả chính của nghiên cứu.

Thiên thạch sắt chủ yếu bao gồm sắt và nickel, với lượng nhỏ coban, phốt-pho, lưu huỳnh và các-bon. Trong khi đồ tạo tác sản xuất từ quặng sắt dưới lòng đất chứa tối đa 4% nickel, lưỡi dao sắt trên con dao găm của vua Tutankhamun chứa gần 11% nickel. Chứng cứ khác giúp xác nhận nguồn gốc thiên thạch của lưỡi dao đến từ dấu vết coban.

"Tỷ lệ nickel và coban trong lưỡi dao găm thống nhất với tỷ lệ ở thiên thạch sắt, tương tự tỷ lệ nguyên thủy trong thời kỳ hình thành các hành tinh thuộc hệ Mặt Trời thuở đầu", Comelli nói. Nhóm của Comelli cũng tìm hiểu về nguồn gốc của lưỡi dao sắt.

"Chúng tôi cân nhắc tất cả thiên thạch tìm thấy ở khu vực trong phạm vi bán kính 2.000 km tính từ Biển Đỏ và tìm ra 20 thiên thạch sắt", Comelli cho biết. "Chỉ một thiên thạch tên Kharga có thành phần nickel và coban tương ứng với thành phần lưỡi dao".

Một mảnh vụn thiên thạch Kharga được tìm thấy năm 2000 ở cao nguyên đá vôi tại Mersa Matruh, cảng biển cách thành phố Alexandria, Ai Cập 240 km về phía tây. Nghiên cứu cho thấy người Ai Cập cổ đại rất coi trọng sắt lấy từ thiên thạch và dùng chúng để sản xuất những đồ vật quý. Có thể, người Ai Cập cổ đại quan niệm những mẩu sắt rơi xuống từ bầu trời mang theo thông điệp của thần linh.

Chất lượng cao của lưỡi dao găm chôn cạnh vua Tut chỉ ra nghề rèn sắt rất phát triển vào thế kỷ 14 trước Công nguyên. Lưỡi dao găm không phải là vật thể duy nhất có nguồn gốc vũ trụ trong lăng mộ vị vua trẻ. Chiếc dây chuyền của nhà vua xâu qua chiếc bùa hộ mệnh hình bọ hung, chế tạo từ thủy tinh silic trên sa mạc Lybia.

Loại thủy tinh này ra đời do tác động của thiên thạch hoặc sao chổi lên mặt cát. Thủy tinh tự nhiên chỉ tồn tại ở vùng sa mạc phía tây xa xôi và hẻo lánh của Ai Cập. Để sản xuất chiếc bùa hộ mệnh, người Ai Cập cổ đại phải vượt qua quãng đường sa mạc dài hơn 800 km.

Xem thêm: Bé gái tìm thấy bùa hộ mạng 3.200 năm tuổi của pharaoh

Phương Hoa

Thứ tư, 1/6/2016 | 14:23 GMT+7

Thứ tư, 1/6/2016 | 14:23 GMT+7

Có rất nhiều điều thú vị xung quanh hố đen, chẳng hạn như nó có thể sinh ra cả một vũ trụ hay cơ thể người sẽ bị kéo dài như sợi mỳ nếu lại gần hố đen.

Một hố đen trẻ, được phát hiện bởi kính thiên văn không gian Splitzer. Ảnh: NASA/CXC/M.Weiss

Một số người nghĩ rằng lỗ đen giống như máy hút bụi vũ trụ, hút hết không gian xung quanh chúng, nhưng trong thực tế, hố đen cũng chỉ giống như các vật thể khác trong vũ trụ, dù có trường hấp dẫn rất mạnh xung quanh.

Nếu thay Mặt Trời hiện tại bằng một hố đen, Trái Đất sẽ không bị hút vào mà tiếp tục quay quanh hố đen. Quan niệm hố đen hút vật chất là sai lầm, nó thực chất chỉ hút vật chất dưới dạng gió sao phát tán ra từ các ngôi sao ở gần.

Carl Schwarzschild, người đầu tiên chứng minh hố đen có thực. Ảnh: Public Domain

Einstein không phải là người phát hiện ra sự tồn tại của hố đen, dù thuyết tương đối của ông thực sự tiên đoán sự hình thành của chúng. Karl Schwarzschild là người đầu tiên sử dụng các phương trình cách mạng của Einstein chứng minh rằng các hố đen có thực.

Ông làm điều này trong cùng năm Einstein công bố thuyết tương đối tổng quát, 1915. Từ một thuật ngữ trong công trình của Schwarzschild, "bán kính Schwarzschild", một phép đo về việc phải nén một vật thể tới nhỏ thế nào để tạo ra một hố đen đã được đưa ra. Rất lâu trước đó nhà bác học người Anh John Michell đã dự đoán sự tồn tại của các "ngôi sao đen", nặng tới mức hút được cả ánh sáng. Tên gọi hố đen chỉ được chính thức đưa ra vào năm 1967.

Hố đen kéo dài mọi thứ ra như sợi mỳ. Ảnh: Public Domain

Hiện tượng này được gọi với cái tên "spaghetti hóa", hố đen sẽ kéo dài bạn ra thành một sợi mỳ spaghetti theo đúng nghĩa đen. Nguyên nhân của hiện tượng này là do lực hấp dẫn thay đổi theo khoảng cách, càng gần tâm hấp dẫn lực càng mạnh. Dưới lực hấp dẫn rất lớn, như ở gần một hố đen, sự khác biệt này càng rõ ràng. Chân gần tâm hơn nên bị hút mạnh hơn, làm cơ thể bị kéo dài ra.

Chúng ta chỉ là một vũ trụ trong vô số vũ trụ. Ảnh: NASA/ESA/D. Coe/J. Anderson/R. van der Marel (STScI)

Hố đen có thể sinh ra cả một vũ trụ mới, điều  này nghe có vẻ điên rồ khi chúng ta không chắc có vũ trụ khác tồn tại nhưng có những lý thuyết đằng sau các nghiên cứu này. Vũ trụ của chúng ta ngày nay có một số điều kiện rất lý tưởng cho sự sống phát triển, mà chỉ cần có một vài thay đổi rất nhỏ sẽ dẫn tới không thể tồn tại sự sống.

Điểm kỳ dị ở tâm hố đen phá vỡ các định luật vật lý và về lý thuyết, có thể thay đổi các điều kiện này và tạo ra một vũ trụ mới với một chút thay đổi khác biệt.

Mô tả không gian bị bẻ cong theo thuyết tương đối tổng quát. Ảnh: Cassini-science-br

Hố đen làm cong không gian xung quanh nó. Tưởng tượng không gian như một tấm thảm cao su. Nếu đặt một vật nặng lên, nó sẽ bị biến dạng. Vật càng nặng đặt lên thì độ biến dạng càng lớn. Một hố đen cũng gây hiệu ứng tương tự với không gian xung quanh nó. Nó tạo ra một cái giếng sâu tới mức không gì đủ năng lượng để trồi ngược ra, kể cả ánh sáng.

Hố đen có hiệu suất phát năng lượng rất tốt. Ảnh: ESO

Hố đen là các nhà máy năng lượng vĩnh cửu. Các hố đen có thể tạo ra năng lượng hiệu quả hơn nhiều so với Mặt Trời. Vật chất của các đĩa vật chất xung quanh hố đen càng ở gần chân trời sự kiện hố đen sẽ quay càng nhanh do lực hấp dẫn mạnh hơn. Do đó nó sẽ nóng lên tới hàng tỷ độ và có khả năng chuyển đổi từ khối lượng thành năng lượng theo dạng bức xạ của vật đen.

Phản ứng tổng hợp hạt nhân trên Mặt Trời chuyển đổi được 0,7% khối lượng thành năng lượng, trong khi các điều kiện quanh một hố đen có thể chuyển hóa 10%. Một sự khác biệt rất lớn.

Các nhà khoa học thậm chí còn đang nghĩ tới sử dụng hố đen để cấp năng lượng cho các tàu vũ trụ hố đen trong tương lai.

Hố đen Sagittarius A tại trung tâm Ngân Hà, nặng hơn Mặt Trời 4 triệu lần. Ảnh: AP

Các nhà khoa học tin rằng có một hố đen siêu nặng ở tâm hầu hết các thiên hà, bao gồm cả Ngân Hà. Chúng đóng vai trò neo giữ vật chất của thiên hà lại với nhau trong không gian. Hố đen Sagittarius A tại trung tâm Ngân Hà, nặng hơn Mặt Trời 4 triệu lần. Nó cách chúng ta 30.000 năm ánh sáng. Các nhà khoa học tin rằng hai triệu năm trước đã xảy ra một vụ nổ rất lớn ở đây, có thể nhìn thấy từ Trái Đất.

Hố đen làm chậm thời gian. Ảnh minh họa: Flickr/Nick

Thời gian sẽ trôi chậm đi khi bạn tới chân trời sự kiện, không có điểm trở lại. Giống như thí nghiệm về nghịch lý sinh đôi của Einstein, người bay vào vũ trụ với tốc độ ánh sáng khi trở lại Trái Đất sẽ trẻ hơn người kia rất nhiều. Khi tới chân trời sự kiện, bạn cũng di chuyển với tốc độ nhanh như vậy và thời gian với bạn sẽ trôi chậm lại.

Năng lượng có thể thoát ra ngoài hố đen. Ảnh: Ho New

Các hố đen có thể không phải các hố không đáy. Năng lượng có khả năng thoát ra khỏi chúng. Phát hiện đáng ngạc nhiên này lần đầu tiên được dự đoán bởi Stephen Hawking vào năm 1974. Hiện tượng này được gọi là bức xạ Hawking, đặt theo tên ông.

Bức xạ Hawking phân tán khối lượng của hố đen vào không gian theo thời gian cho tới khi hố đen biến mất.

Theo lý thuyết, mọi thứ có thể trở thành hố đen. Ảnh: REUTERS/NASA/JPL-Caltech/Handout

Sự khác biệt duy nhất giữa hố đen và Mặt Trời là tâm của hố đen cấu tạo từ vật chất cực kỳ dày đặc, tạo ra một trường hấp dẫn rất mạnh. Về lý thuyết, nếu có thể nén Mặt Trời lại xuống kích thước chỉ còn khoảng 6 km, nghĩa là nén tất cả khối lượng của Mặt Trời vào một không gian vô cùng nhỏ, khi đó sẽ tạo ra được một hố đen. Có thể áp dụng lý thuyết này cho mọi thứ, từ Trái Đất cho tới cơ thể bạn.

Tuy nhiên, thực tế là hố đen chỉ được hình thành khi có một ngôi sao sụp đổ, với khối lượng gấp 20 – 30 lần Mặt Trời.

Nguyễn Thành Minh

Tin tức nổi bật trong tuần

Đối tác